30/07/2021 10:27
Xem với cỡ chữ

Bàn về công tác giảm nợ xấu của Ngân hàng Phát triển Việt Nam

Bùi Thị Thu Nga Chi nhánh NHPT Ninh Bình (Bài đạt giải Khuyến khích Cuộc thi viết về 15 năm thành lập NHPT, Bài viết đã được biên tập phù hợp đăng trên Tạp chí HTPT)
Đối với ngân hàng hay các tổ chức tín dụng, nợ xấu được định nghĩa là khoản nợ được vay tại ngân hàng, tổ chức tín dụng đã đến hạn thanh toán nhưng chưa được người vay thanh toán đầy đủ (khách hàng không thanh toán đúng hạn gốc và lãi định kỳ theo quy định tại hợp đồng vay).
Nợ xấu luôn song hành cùng hoạt động tín dụng theo mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro. Nợ xấu có những tác động chính ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế và làm ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng.
Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu gồm nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Đối với nguyên nhân khách quan đó là: môi trường thiên nhiên (lũ lụt, hạn hán, hoả hoạn, dịch bệnh…); môi trường kinh tế (cơ chế lãi suất, tỷ giá…); môi trường pháp lý và tín dụng do sự bảo lãnh. Nguyên nhân chủ quan bao gồm từ phía doanh nghiệp và từ phía ngân hàng. Đối với doanh nghiệp đó là sự yếu kém trong hoạt động sản xuất kinh doanh; rủi ro trong kinh doanh và đạo đức của khách hàng. Đối với ngân hàng đó là chính sách tín dụng; công tác kiểm tra, kiểm soát và chất lượng cán bộ ngân hàng.
Ngân hàng Phát triển Việt Nam (NHPT) là Ngân hàng chính sách của Chính phủ, một định chế tài chính quan trọng cung cấp nguồn lực tài chính cho tăng trưởng kinh tế, có những đóng góp nhất định vào sự thành công của các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế và tăng trưởng kinh tế của đất nước. Với việc thực hiện Đề án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu của NHPT giai đoạn 2019 - 2021 thì công tác giảm nợ xấu luôn là nhiệm vụ trọng tâm. Để giảm được số nợ xấu lớn và thực hiện xử lý nợ xấu một cách triệt để, cần phải có giải pháp tổng thể và lâu dài. Rất nhiều ngân hàng không chỉ ở Việt Nam và cả thế giới đã từng phải đối mặt với những khó khăn với khối nợ xấu khổng lồ. Để vượt qua những khó khăn đó, họ có những cách thức xử lý, hay các giải pháp khác nhau. Học hỏi kinh nghiệm xử lý nợ xấu, giảm nợ xấu của họ là tốt. Nhưng khi vận dụng vào từng dự án/khoản vay/khách hàng sẽ có nhiều bất cập. Vì thế, cho nên việc lựa chọn phương thức nào, giải pháp nào là phù hợp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan đến dự án/khoản vay/khách hàng. 
Trong bài viết, tác giả xin đưa ra một số giải pháp giảm nợ xấu đối với NHPT trong giai đoạn hiện nay, như sau:
Nâng cao chất lượng công tác thẩm định để lựa chọn dự án khả thi, lựa chọn khách hàng có uy tín để cho vay: 
Trước hết đòi hỏi cần phải có nhận thức sâu sắc hơn vai trò của công tác thẩm định dự án. Coi công tác thẩm định là sản phẩm đặc biệt, sản phẩm được kết tinh từ tổ chức, trí tuệ và kinh nghiệm, sản phẩm nhằm tự cung tự cấp cho quyết định của Ngân hàng có cho vay hay không? nếu cho vay thì các điều kiện ràng buộc, mức độ chấp thuận là như thế nào? 
Thực hiện quy trình tổ chức thẩm định theo hướng gọn nhẹ, hiệu quả. Phân công chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ giữa các phòng, ban để căn cứ vào đó cán bộ thẩm định tham gia hướng dẫn, yêu cầu khách hàng theo chức năng nhiệm vụ của mình. Tùy thuộc vào tính chất phức tạp của dự án, lĩnh vực đặc thù, dự án có các yếu tố phức tạp cần thiết thành lập Hội đồng thẩm định để nâng cao ý kiến tập thể, thông suốt và thống nhất cách hiểu về nội dung dự án. 
Đối với đội ngũ cán bộ thẩm định với vai trò quyết định đến chất lượng thẩm định và quyết định cho vay, lực lượng này đòi hỏi về trình độ, chuyên môn, kinh nghiệm với các kỹ năng tổng hợp, đồng thời yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp, tính chuyên nghiệp, kỷ luật và tránh nhiệm cao. Cần tăng cường đội ngũ cán bộ thẩm định và thực hiện chuyên môn hóa, có chính sách tuyển dụng, đào tạo cán bộ nhằm bồi dưỡng kiến thức, nâng cao trình độ theo hình thức ngắn hạn, dài hạn và tự học tập, có chính sách ưu đãi thúc đẩy cán bộ thẩm định say mê, nhiệt tình, có ý thức trách nhiệm với ngành để thường xuyên có được các sáng kiến, đề xuất phát triển nghiệp vụ thẩm định.
Cần có một trung tâm thông tin trong toàn hệ thống, nâng cao khả năng khai thác nguồn dữ liệu thông tin, kịp thời hỗ trợ công tác thẩm định, trung tâm này được cập nhập, xử lý số liệu thường xuyên. Trường hợp những lĩnh vực đầu tư mới, thiếu cơ sở, NHPT có thể thuê đơn vị có chuyên môn tiến hành khảo sát, đánh giá các mặt liên quan đến thị trường đầu vào của sản xuất và đầu ra của sản phẩm để làm cơ sở cho cán bộ thẩm định dự án. Sử dụng linh hoạt các phương pháp thẩm định nhằm có những nhận xét, đánh giá chính xác, trung thực về dự án đầu tư khi thẩm định. 
Thực hiện nhiều biện pháp thu hồi, xử lý nợ:
NHPT cần có tiêu chí phân loại nợ phù hợp, có tiêu chuẩn chấm điểm xếp hạng doanh nghiệp, khách hàng để có cơ chế ứng xử thích ứng đối với những khách hàng chưa thực hiện hoàn trả nợ vay cho NHPT. 
Trường hợp khách hàng chưa trả nợ đúng hạn cho NHPT do khách hàng có khó khăn tài chính thực sự nên không thể trả nợ NHPT sẽ thực hiện các biện pháp xử lý nợ, nếu khách hàng không có khả năng khôi phục sản xuất tạo nguồn thu trả nợ NHPT, NHPT cần tiến hành các biện pháp xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi vốn. 
Thực hiện giám sát đặt biệt khách hàng: 
Đối với một số dự án, khi Chủ đầu tư không thực hiện trả nợ theo hợp đồng tín dụng trong thời gian dài, cần tiến hành giám sát đặc biệt (giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày) các dự án để nghiên cứu tình hình hoạt động của dự án từ đó có cơ sở đề nghị Chủ đầu tư trả nợ cho NHPT.
Cán bộ ở một số phòng như tổng hợp, kiểm tra, kế toán, hành chính - quản lý nhân sự sẽ được phân công hỗ trợ cán bộ tín dụng. Cán bộ đi giám sát hàng ngày các dự án trên sẽ thực hiện tiến hành thu thập các thông tin về kết quả hoạt động của dự án hàng ngày trong một khoảng thời gian ngắn (có thể là 01 tháng hoặc 01 quý tùy theo từng chỉ tiêu), việc thu thập thông tin phải được thực hiện thường xuyên hàng ngày. Mục đích của việc tổ chức thu thập các thông tin của khách hàng là để giải quyết các vấn đề sau:
1. Trong ngày khách hàng tiêu thụ được bao nhiêu hàng hóa, là những hàng hóa gì, đơn giá của từng loại hàng hóa? Sản lượng hàng hoá đã sản xuất được trong ngày và hàng còn tồn kho? (tránh trường hợp khách hàng đã xuất hàng hoá bán nhưng lại không đưa vào sổ công nợ phải thu hoặc bỏ ngoài luồng tiền đã thu được).
2. Số hàng hóa trên được bán cho những tổ chức hoặc cá nhân nào? (cụ thể về tên, địa chỉ của bên mua, số lượng hàng hoá mua, giá cả hàng hoá).
3. Việc bán hàng được thực hiện như thế nào? (có hợp đồng mua bán hoặc một thỏa thuận nào tương tự không, việc bán lẻ thông qua các đại lý có hợp đồng cụ thể không ?...).
4. Trong các hợp đồng mua bán hoặc hợp đồng ủy quyền đại lý quy định cụ thể về khối lượng hàng hóa, đơn giá bán, thời gian giao nhận hàng, các điều kiện thanh toán chuyển tiền cụ thể như thế nào?.
5. Tiến trình thanh toán của các hợp đồng kinh tế nêu trên đã diễn ra thực tế như thế nào? (các biên bản giao nhận hàng, phiếu xuất kho, biên bản đối chiếu công nợ, các hóa đơn đã xuất cho bên mua, phiếu thu tiền mặt…).
6. Tổng hợp dòng tiền thu, dòng tiền chi trong ngày của dự án (khách hàng) là bao nhiêu? 
7. Thực tế khách hàng có đủ nguồn để trả nợ hay không cho NHPT, đã thực hiện trả bao nhiêu và có khả năng trả bao nhiêu để phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh như trên của khách hàng?
Từ thực tế tiến hành giám sát chặt chẽ tình hình sản xuất kinh doanh thời gian đó của chủ đầu tư, cán bộ ngân hàng sẽ nắm bắt hoàn toàn tình hình sản xuất kinh doanh của dự án chi tiết và chuẩn xác nhất. Sau thời gian giám sát đặc biệt Chủ đầu tư các dự án sẽ phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ với NHPT phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thực hiện bán tài sản bảo đảm: 
Nếu Dự án chủ đầu tư thực hiện vay vốn TDĐT đi vào hoạt động đạt hiệu quả thấp; sau một thời gian hoạt động không hiệu quả, dừng hoạt động. NHPT cùng với chủ đầu tư sẽ phải làm việc thống nhất bán đấu giá tài sản bảo đảm của dự án theo quy định về việc bán đấu giá tài sản bảo đảm của Nhà nước và của NHPT và thực hiện thu nợ số tiền bán đấu giá tài sản bảo đảm theo đúng quy định. 
Công tác xử lý rủi ro, cơ cấu nợ đối với dự án:
Đối với những chủ đầu tư thực hiện vay vốn TDĐT của Nhà nước có dự án bị chậm tiến độ, chủ đầu tư không bố trí được nguồn trả nợ theo hợp đồng tín dụng đối với NHPT do đó phát sinh nợ xấu. Để tháo gỡ khó khăn cho chủ đầu tư và dự án, NHPT xem xét nguyên nhân, đánh giá tình hình thực hiện dự án phân tích hiệu quả của dự án theo phương án cơ cấu mà chủ đầu tư đưa ra… và có văn bản áp dụng giải pháp tín dụng phù hợp đối với từng dự án. Sau khi ký hợp đồng tín dụng sửa đổi bổ sung, thường xuyên đôn đốc Chủ đầu tư thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho NHPT theo hợp đồng đã ký đồng thời đầy nhanh tiến độ hoàn thành dự án để có nguồn doanh thu trả nợ cho NHPT.
Sự hỗ trợ của cơ quan có chức năng:
Đối với một số dự án mang tính an sinh xã hội không cân đối được nguồn trả nợ cho NHPT, NHPT cần phối hợp Bộ Tài Chính, các bộ, ban ngành liên quan, UBND và các cơ quan có chức năng tại các địa phương phối hợp làm việc về tình hình dự án và hướng xử lý nợ dự án phù hợp để giảm nợ xấu của dự án xuống mức thấp nhất.
Thực hiện đồng tài trợ với các NHTM:
Trong điều kiện NHPT chưa thể mở rộng phạm vi hoạt động, đa dạng hình thức thanh toán, hình thức hỗ trợ doanh nghiệp thì NHPT nên quan tâm đến các dự án đồng tài trợ với NHTM. Theo đó NHPT cho vay một phần vốn dài hạn, NHTM cho vay một phần vốn dài hạn và phần vốn ngắn hạn (vốn lưu động) cùng ký chung hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay. Như vậy, cả hai ngân hàng sẽ cùng chung trách nhiệm, chia sẻ rủi ro và cùng hỗ trợ các biện pháp và có các chế tài khi cần thiết đảm bảo dự án hoạt động tốt đồng thời công tác thu nợ của ngân hàng được thực hiện đúng như kế hoạch.
NHPT không cho vay vốn lưu động nên rất khó quản lý được hết dòng tiền của dự án mà chỉ cho vay vốn cố định. NHTM thực hiện cho vay vốn lưu động, khi NHPT và NHTM cùng ký hợp đồng tài trợ vốn cho doanh nghiệp thì nếu phát sinh nợ quá hạn đối với khoản nợ của NHPT thì NHTM sẽ không thực hiện giải ngân nguồn vốn vay lưu động cho doanh nghiệp. Trong trường hợp, dự án/ doanh nghiệp thật sự khó khăn trong sản xuất kinh doanh thì cả NHPT và NHTM sẽ thực hiện đồng thời các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp như cơ cấu nợ, giãn nợ, khoanh nợ… để doanh nghiệp ổn định sản xuất đồng thời đảm bảo trả nợ cho cả NHPT và NHTM không để phát sinh nợ quá hạn, nợ xấu ở bất kỳ tổ chức tín dụng nào.
Khai thác kho dữ liệu từ trung tâm tín dụng
Cán bộ, người lao động NHPT nên tích cực khai thác kho dữ liệu từ trung tâm thông tin tín dụng quốc gia (CIC) hay trung tâm tín dụng được điều hành bởi công ty trung tâm tín dụng tư nhân (PCB) và các phương tiện thông tin đại chúng đài, báo, internet…  để tìm hiểu thông tin về tình hình tín dụng của doanh nghiệp và có biện pháp chế tài đối với khách hàng có nợ xấu sớm nhất và có hiệu quả cao nhất. 
Đối với những khách hàng đang thực hiện công tác đề nghị vay vốn tại NHPT thì cán bộ NHPT cần tìm hiểu rõ các thông tin liên quan đến doanh nghiệp hay chủ doanh nghiệp, ngoài ra nên tìm hiểu thêm một số người có quan hệ gần với chủ doanh nghiệp như bố, mẹ, vợ, chồng, anh chị em ruột xem mối quan hệ của họ với các tổ chức tín dụng như thế nào? Từ đó, chúng ta cũng có thêm những đánh giá nhận xét về khả năng tài chính, uy tín… của doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp đối với các tổ chức tín dụng.
Đối với các khách hàng đang có quan hệ tín dụng tại NHPT thì cán bộ tín dụng cần nắm bắt thông tin thêm tình hình tài chính của công ty mẹ, công ty con… đối với trường hợp có công ty mẹ, công ty con, có phát sinh nợ xấu hay vấn đề liên quan đến tổ chức tín dụng để từ đó đánh giá xem xét xem có ảnh hưởng đến doanh nghiệp đang có quan hệ với NHPT không, mức độ ảnh hưởng như nào… để có thể nghiên cứu, đánh giá đưa ra các giải pháp giảm thiểu rủi ro cho NHPT đến mức thấp nhất nếu có. Trường hợp đối với các công ty tư nhân thì cũng cần theo dõi thêm mối quan hệ tín dụng của chủ doanh nghiệp và một số người có quan hệ gần với chủ doanh nghiệp như  bố, mẹ, vợ, chồng, anh chị em ruột. Nếu những người trên có phát sinh nợ xấu đối với tổ chức tín dụng nào đó, thì cán bộ tín dụng sẽ nghiên cứu phương án để giảm thiểu ảnh hưởng xấu tới mức thấp nhất có thể (nếu có).
Ngoài ra, NHPT cần triển khai đầy đủ các nghiệp vụ ngân hàng đặc biệt là nghiệp vụ thanh toán  giúp NHPT quản lý theo dõi dòng tiền của doanh nghiệp hiệu quả hơn và đây cũng là công cụ để NHPT thu nợ từ khách hàng, đồng thời tăng cường kết nối với hệ thống các ngân hàng. Tăng cường cơ sở vật chất, đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin mang tính chuyên nghiệp, hiện đại hóa để đáp ứng được công tác điều hành và hoạt động nghiệp vụ đảm bảo nhanh, chính xác.
Nâng cao trình độ, trách nhiệm đối với cán bộ thu nợ:
Cán bộ tín dụng làm công tác thu nợ cần tích cực, trách nhiệm hơn, luôn quan tâm và quyết liệt bảo vệ lợi ích chính đáng của NHPT. NHPT cần xây dựng chính sách ưu tiên trong tiếp nhận, tuyển dụng cán bộ vào làm việc có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tư cách đạo đức phẩm chất. Lãnh đạo cần bố trí, bổ nhiệm cán bộ có kinh nghiệm, có năng lực, có đạo đức nghề nghiệp nắm chắc nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm cao đối với những dự án khó khăn phức tạp, hạn chế tình trạng nơi thừa, nơi thiếu cán bộ. Bên cạnh việc có trình độ, chuyên môn, nhận thức tốt, năng lực nghiệp vụ cao, nắm vững nghiệp vụ của Ngân hàng, hiểu biết sâu rộng về tài chính doanh nghiệp… cán bộ tín dụng cần có bản lĩnh tự tin, rèn luyện kỹ năng trao đổi, làm việc với khách hàng sao cho vừa đủ thuyết phục nhưng cũng phải uyển chuyển khéo léo để giữ gìn uy tín của ngân hàng, cố gắng tạo mối quan hệ tốt với NHTM mà khách hàng đang có quan hệ giao dịch thường xuyên để nắm bắt thông tin và phối hợp quản lý nguồn thu từ khách hàng. 
Đồng thuận trong nhận thức xử lý công việc từ Lãnh đạo đến cán bộ xử lý, giải quyết công việc không mang tính hành chính, cảm tính, phát huy tính sáng tạo tập thể, khen chê kịp thời, có cơ chế động viên khuyến khích bằng vật chất, chủ động phục vụ khách hàng, không ngại trách nhiệm sau nhiều vụ bị hình sự hóa xảy ra đối với NHPT, an tâm làm việc. Tạo niềm tin của khách hàng vào năng lực chuyên môn cũng như tinh thần trách nhiệm công việc đối với cán bộ, người lao động NHPT.
Nâng cao công tác tài sản bảo đảm tại NHPT:
Đối với NHPT công tác quản lý tài sản bảo đảm được Ban lãnh đạo và toàn thể các cán bộ, nhân viên và người lao động hết sức coi trọng vì hầu hết các dự án NHPT cấp tín dụng đều có tài sản bảo đảm là tài sản hình thành sau đầu tư của dự án nên tính thanh khoản trung bình, nhiều dự án thấp và giá trị bị suy giảm nhiều sau thời gian sản xuất, kinh doanh, sử dụng. Một số dự án chủ đầu tư tự ý sửa chữa, di chuyển tài sản bảo đảm mà không được sự đồng ý của ngân hàng. Một số tài sản bảo đảm thuộc đối tượng phải mua bảo hiểm nhưng không mua hoặc bảo hiểm đã hết hạn nhưng không tiếp tục mua bảo hiểm…
NHPT nên đa dạng hóa tài sản bảo đảm: Đa số hiện nay các dự án vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước đều có tài sản có khả năng chuyển nhượng ở mức trung bình hoặc thấp, trong khi đó hiện nay các loại giấy tờ có giá và các các loại bất động sản có độ an toàn cao và có khả năng chuyển nhượng dễ dàng. Đối với những doanh nghiệp tư nhân, NHPT nên đề nghị bổ sung thêm tài sản bảo đảm là tài sản cá nhân của giám đốc, kế toán trưởng với điều kiện các tài sản trên phải hợp pháp và không được thế chấp tại tổ chức tín dụng khác.
Nâng cao hiệu quả công tác định giá tài sản bảo đảm:
- NHPT nên xây dựng một phương pháp chung nhất để áp dụng cho công tác định giá tài sản bảo đảm với những căn cứ cụ thể (đưa ra khung giá hợp lý cho từng loại tài sản tưng ứng với từng giai đoạn thị trường...) để các cán bộ có thể dễ dàng hợp trong công tác định giá, đảm bảo tính chính xác cao.
- Đối với những loại tài sản thế chấp là máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất, NHPT nên đề nghị các cơ quan chuyên môn đánh giá về thực trạng của tài sản và theo dõi sự biến động trên thị trường của chúng. 
- NHPT nên tổ chức các khóa học, bồi dưỡng nghiệp vụ để cán bộ NHPT có những hiểu biết cần thiết về các loại hình của tài sản bảo đảm tránh tình trạng không có kiến thức đúng về tài sản bảo đảm dẫn đến việc đánh giá không đúng và không chính xác giá trị của tài sản bảo đảm.
Tăng cường công tác quản lý tài sản bảo đảm:
- Cán bộ tín dụng tăng cường kiểm tra, giám sát tài sản bảo đảm đặc biệt đối với tài sản bảo đảm là máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất ngân hàng cần kiểm tra và đánh giá tài sản thường xuyên để đánh giá trị hao mòn, giảm sút, xuống cấp của tài sản để đề xuất hướng, biện pháp xử lý. 
- Bám sát tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính, tình hình tài sản của chủ đầu tư/khách hàng, tích cực đôn đốc thu hồi nợ từ các nguồn hợp pháp của khách hàng, yêu cầu khách hàng bổ sung tài sản bảo đảm trong trường hợp giá trị tài sản bảo đảm không đủ đảm bảo cho dư nợ của chủ đầu tư/khách hàng.
- Tập trung xử lý tài sản bảo đảm đối với các khoản nợ đã có chủ trương xử lý tài sản bảo đảm. 
Nợ xấu đang là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của NHPT hiện nay. Nếu chỉ áp dụng giải pháp xử lý chỉ từ phía NHPT thì khối nợ xấu kia sẽ không thể giải quyết sớm, giải quyết căn bản và triệt để được. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng đang còn nhiều khó khăn, việc giảm nợ xấu của NHPT cần được huy động tổng lực tất các thành phần trong xã hội cùng “chung tay” xử lý thì cục “nợ xấu” kia sẽ có cơ hội sớm được loại bỏ. Vấn đề đặt ra là, cần một định hướng tổng thể lâu dài, sự đồng tâm hiệp lực, sự đồng thuận của cả hệ thống lớn từ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ ban ngành, NHPT và các doanh nghiệp, tổ chức có quan hệ tín dụng với NHPT./.
Tìm theo ngày :

Khách online:20928
Lượt truy cập: 12994498